Trông… hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản

Lượt xem: 177
Dâu tây sạch trồng trong nhà màng ở Nhật. Ảnh: VTX

Hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản
Chúng tôi tham quan hợp tác xã nông nghiệp của tỉnh Saga và tỉnh Karatsu.
Tại Saga, sau khi gặp ông Chủ tịch Hiệp hội các hợp tác xã nông nghiệp của tỉnh, chúng tôi thăm nhà hàng phục vụ thịt bò nổi tiếng của Saga do một hợp tác xã nông nghiệp nuôi bò cung cấp, và hợp tác xã nông nghiệp Shirota-nishi sản xuất lúa bên cạnh nhà máy chế biến gạo Tenshino Uta cũng của hợp tác xã nông nghiệp này đầu tư.
Tại tỉnh Karatsu, chúng tôi tham quan hợp tác xã nông nghiệp Karatsu với hai nhóm chuyên sản xuất cây ăn trái: một nhóm sản xuất và chế biến quýt, nhóm kia sản xuất và đóng hộp dâu tươi. Nhóm nào cũng có nhà máy chế biến bên cạnh. Một nông dân chuyên sản xuất rau cao cấp cho các nhà hàng của vùng Kyushu đã tiếp đoàn, giải thích cụ thể hoạt động của ông ta. Vào ngày cuối của đoàn, chúng tôi gặp được TS. Kenji Cho, chuyên ngành kinh tế nông nghiệp, chuyên gia nghiên cứu về hợp tác xã nông nghiệp của Nhật Bản, để tìm hiểu sâu thêm về hệ thống hợp tác xã nông nghiệp của Nhật.
Nông dân Nhật Bản ngày nay là những người khá giả không thua các tầng lớp khác trong xã hội. Mọi cá nhân và cơ quan trong vùng của hợp tác xã nông nghiệp đều được mời tham gia hợp tác xã nông nghiệp: xã viên chính thức (nông dân có đất, hoặc chủ các công ty, tổ chức liên quan trực tiếp đến nông nghiệp), và xã viên liên kết (cá nhân hoặc tổ chức không dính líu gì đến nông nghiệp nhưng cư trú trong vùng). Xã viên được tận dụng các dịch vụ của Tổng liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp tại địa phương, từ phương tiện hướng dẫn sản xuất, bảo hiểm nhân thọ, du lịch, tín dụng/ngân hàng, đến an sinh xã hội.
Hệ thống hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản được tổ chức theo ba cấp: cấp xã-huyện có hợp tác xã đơn mục tiêu (chỉ chuyên trồng lúa, hoặc nuôi heo, hoặc trồng nho…); cấp tỉnh có Liên hiệp hợp tác xã hợp tác xã đa mục tiêu (vừa có lúa, có nuôi bò, trồng cam, quýt…); cấp trung ương có Tổng liên đoàn hợp tác xã nông nghiệp. Tổ chức của mỗi hợp tác xã nông nghiệp bao gồm: 1) đại hội xã viên bầu ra hội đồng quản trị; 2) ban điều hành; 3) ban kiểm tra; 4) nhân viên chuyên môn (kế toán, tài vụ, tín dụng); 5) các tổ sản xuất chuyên (cây, con…); 6) các nhà máy chế biến, đóng hộp, cơ sở dịch vụ; 7) đoàn thể an sinh xã hội.
Trong giai đoạn mới thành lập, từ thập niên 1950-1970, hợp tác xã nông nghiệp chưa tích lũy đủ vốn thì nhà nước trung ương, tỉnh, huyện tài trợ cho hợp tác xã nông nghiệp hoạt động. Vốn tài trợ của nhà nước ba cấp gộp lại có thể đến 90% nhu cầu vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất. Ngày nay các hợp tác xã nông nghiệp đều khá hơn rồi, tài trợ của nhà nước vẫn còn nhưng ít hơn, nông dân vay vốn để phát triển những hoạt động sản xuất theo công nghệ cao. Ví dụ, tại tổ sản xuất dâu của hợp tác xã nông nghiệp Karatsu, một nhà máy phân loại trái dâu theo độ đậm màu đỏ, kích thước trái, độ cân đối của trái, dấu vết bất thường trên trái, cho đến khâu đóng hộp dâu tươi và dán nhãn hiệu của hợp tác xã nông nghiệp Karatsu đã được hợp tác xã nông nghiệp đầu tư.
Thành viên của những tổ sản xuất này được chuyên viên hợp tác xã hướng dẫn đúng theo quy trình do sở nông lâm của tỉnh phổ biến, từ khâu trồng, chăm sóc, bảo vệ thực vật đúng chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, đến thu hoạch, đưa sản phẩm nguyên liệu sạch về nhà máy.
Trong hợp tác xã nông nghiệp Saga còn có thêm hình thức công ty sản xuất cung ứng nguyên liệu cho hợp tác xã. Chúng tôi đến thăm một công ty như thế. 16 người gom đất lại thành cánh đồng lớn dưới sự điều hành của một người đứng đầu, sản xuất lúa cho hợp tác xã hoàn toàn bằng cơ giới (được hợp tác xã nông nghiệp Saga cho vay vốn đầu tư).
Nông dân xã viên yên tâm sản xuất mà không lo đầu ra nữa vì đã có ban điều hành hợp tác xã lo liệu tất cả. Trong khi đó thì hợp tác xã luôn thực hiện đúng hợp đồng với khách hàng, là những siêu thị trong và ngoài tỉnh. Người tiêu dùng Nhật Bản không lo sợ phải ăn sản phẩm không an toàn. Môi trường đất, nước, và không khí được giữ trong lành vì nông dân làm theo đúng quy trình kỹ thuật.
Chợ đầu mối
Đoàn chúng tôi tham quan ba loại chợ mà nông dân xã viên hợp tác xã nông nghiệp có thể tiêu thụ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, hoặc chế biến của họ.
Loại chợ thứ nhất là siêu thị mini tại địa phương do nông dân lập ra. Những xã viên có sản xuất ngoài kế hoạch lớn của hợp tác xã nông nghiệp có thể đem sản phẩm làm thêm đến đây gửi bán, trả tiền huê hồng cho siêu thị.
Loại chợ thứ hai là chợ bán lẻ cấp thành phố, điển hình là chợ Ito Sai Sai – một siêu thị trong thành phố Itoshima do hợp tác xã nông nghiệp Itoshima đầu tư xây dựng và điều hành quản lý. Hợp tác xã nông nghiệp Itoshima có1.500 hộ dân gồm phần lớn người già và phụ nữ. Đầu ra của những sản phẩm có khối lượng lớn là những siêu thị ở xa, còn những sản phẩm có khối lượng nhỏ do phụ nữ và người già sản xuất thì họ đem đến chợ này gửi bán. Mỗi xã viên tự định giá bán của mình, tiếp tục đem hàng đến bổ sung khi hàng của mình gần hết. Đến 6 giờchiều họ phải chở về nhà những sản phẩm còn tồn chưa bán được. Họ phải trả huê hồng cho ban quản lý chợ tính từ lượng sản phẩm bán được.
Loại chợ thứ ba là chợ đầu mối lớn. Một hợp tác xã nông nghiệp có thể ký hợp đồng bán khối lượng lớn sản phẩm thường xuyên, trực tiếp cho hệ thống siêu thị lớn, hoặc cũng có thể bán trực tiếp tại chợ đầu mối lớn của tỉnh hoặc của vùng. Chợ đầu mối Vegefru của Fukuoka là một chợ bán sỉ rau quả tươi, mới được khai trương tại thành phố đảo Fukuoka vào tháng 2-2016, thay thế ba cái chợ cũ trước đây. Chợ đầu mối mới này được xây dựng trên diện tích 150.000 mét vuông, là một trong những chợ đầu mối lớn nhất ở Nhật Bản, tiếp nhận rau củ quả tươi không chỉ từ Fukuoka mà còn từ cả vùng đảo Kyushu. Bên trong Vegefru có một khu kho cách nhiệt thật kín, tổng cộng gần 10.000 mét vuông, gồm 30 kho nhỏ giữ nhiệt ở 5 độ C để bảo quản tươi rau quả của khách hàng trong khi chờ đấu giá, và một khu trung gian gần 10.000 mét vuông duy trì ở nhiệt độ 15 độ Cđể cho các hoạt động trưng bày hàng mẫu và các sàn đấu giá. Tất cả rau, củ, quả đều được xếp rất gọn trong thùng giấy carton. Một anh đứng cạnh tôi nói hồi tháng 6 vừa qua, anh ta đấu giá – mua được xoài Việt Nam giá 1.200 yen/trái (12 đô la Mỹ/trái).
Trên tầng 2 của chợ có các phòng thí nghiệm kiểm tra nồng độ lưu tồn thuốc trừ sâu trên rau quả tươi trước và sau khi giao hàng. Còn có một hội trường đa dụng để tổ chức các sự kiện thường xuyên, như đấu giá thực phẩm và các lớp học nấu ăn. Các sản phẩm tươi sống của chợ Vegefru được bán đi khắp nước Nhật và Vegefru hướng đến trở thành một trung tâm rau quả tươi của châu Á, trong đó tập trung chủ yếu vào người tiêu dùng Hồng Kông và Đài Loan. Chợ này trở thành một điểm du lịch của Fukuoka. Ban lãnh đạo ở đây hàng ngày cộng tác với các công ty du lịch cho du khách như chúng tôi đến thăm.
Trông người mà ngẫm đến ta
Qua chuyến tham quan này, tôi thấy, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới Nhật Bản là một công cụ xóa nghèo rất hiệu quả của Chính phủ Nhật Bản: tạo điều kiện cho nông dân nghèo trở thành tầng lớp giàu có ở nông thôn bằng biện pháp đồng bộ qua chính sách sáng suốt của nhà nước.
Luật hợp tác xã nông nghiệp phù hợp từng thời kỳ phát triển kinh tế xã hội, đi kèm với Luật Nông nghiệp Nhật Bản. Từ luật này, hệ thống hợp tác xã nông nghiệp được tổ chức từ trung ương đến cấp xã, được phân bổ ngân sách giúp nông dân qua việc bao cấp ở những mức độ khác nhau để đạt mục tiêu phát triển mà nhà nước đặt ra trong từng thời kỳ.
Ngành nông nghiệp và các khoa học khác tập trung nghiên cứu xác định toàn bộ kỹ thuật cho chuỗi giá trị từng ngành hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản trên tất cả các vùng sinh thái, cho tất cả nông dân xã viên các hợp tác xã học tập thành tập quán canh tác mới, quý trọng và bảo vệ môi trường.
Việc thiết lập các hình thức chợ đầu ra cho nông sản phù hợp trình độ sản xuất của xã viên hợp tác xã tại các địa phương. Với chủ trương này của nhà nước, mỗi người nông dân – xã viên đều nhận thức phải sản xuất sản phẩm có chất lượng cạnh tranh, do đó cả xã hội Nhật và kể cả quốc tế đều tin tưởng.
Nhật Bản cho phép hệ thống hợp tác xã nông nghiệp tổ chức các dịch vụ phục vụ nông dân như: ngân hàng tín dụng (xuất phát từ quỹ tín dụng của từng hợp tác xã nông nghiệp), công ty du lịch (bao gồm tours du lịch, chuỗi nhà hàng và chuỗi khách sạn của hợp tác xã), công ty bảo hiểm y tế và nhân thọ (cho tất cả xã viên), các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, và an sinh xã hội (các đơn vị chăm sóc người già, thiếu nhi, thanh niên, phụ nữ).
Phong trào hợp tác hóa của Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm, nhưng đến nay vẫn chưa tạo điều kiện cho nông dân ta làm giàu. Thời nay ta có quá nhiều hợp tác xã nông nghiệp ở dạng hình thức mà nội dung thì mạnh xã viên nào nấy bơi, phần lớn vẫn còn nghèo, để cho giới thương lái và các công ty dịch vụ đầu vào và đầu ra làm giàu.
Luật hợp tác xã nông nghiệp của ta chưa có điểm nào để khuyến khích người nông dân nghèo tự giác xin gia nhập. Cần sửa lại luật sao cho người nông dân nghèo thấy rằng “nếu luật là như vậy mà mình không vô hợp tác xã là mình bị thiệt thòi, mất cơ hội làm giàu”. Hợp tác xã không tự bơi một mình mà cả chuỗi giá trị sản xuất ngành hàng cần được tổ chức đồng bộ, đồng hành với nông dân.

tintucnongnghiep.com