NỘI DUNG CUỐN THÔNG TIN NỘI BỘ HỘI NÔNG DÂN QUÝ II NĂM 2018 (phần II)

Lượt xem: 100

“…Đã tham dự nhiều hội nghị, diễn đàn về nông nghiệp, nông thôn nhưng đây là lần đầu tiên trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, tôi trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với đại diện nông dân trong cả nước, với sự tham dự trực tiếp của hơn 600 đại biểu là các nông dân đại diện đến từ mọi miền Tổ quốc và đại diện Hội Nông dân các cấp, cộng đồng doanh nghiệp. Cuộc đối thoại này có ý nghĩa rất quan trọng, hữu ích để Chính phủ trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của bà con nông dân, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong sản xuất kinh doanh, những thách thức trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, đời sống nông dân.

Tôi rất ấn tượng và đánh giá cao những ý kiến tâm huyết, trí tuệ, rất thẳng thắn của các đại diện cho bà con nông dân, các chuyên gia, các doanh nghiệp và các quý vị đại biểu. Từ cách đặt vấn đề, nội dung trao đổi của bà con nông dân, tôi cũng như tất cả các đồng chí tham dự Hội nghị đều cảm nhận rằng người nông dân Việt Nam hôm nay có khát khao vươn lên mạnh mẽ, nắm bắt xu thế thời cuộc và hội nhập quốc tế…

Tôi đánh giá cao Hội Nông dân Việt Nam, tỉnh Hải Dương tổ chức thành công cuộc đối thoại này. Sau cuộc đối thoại này, đề nghị Hội Nông dân tập hợp ý kiến, tổng hợp các vấn đề để xây dựng thành các chủ trương, thể chế mới. Phó thủ tướng, các bộ trưởng dự họp hôm nay cũng sẽ có cuộc họp tiếp thu và giải quyết các vấn đề đặt ra.

Có thể khẳng định, nông nghiệp Việt Nam sau 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu quan trọng, từ chỗ thiếu đói chúng ta đã dư thừa lương thực, trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới. Các loại nông sản, trái cây, thủy sản của Việt Nam đã thâm nhập được vào thị trường khó tính.

Để không ngừng nâng cao chất lượng, số lượng sản phẩm, thân thiện với môi trường, Đảng, Nhà nước luôn coi nông nghiệp, nông thôn là một mặt trận quan trọng, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa muốn thành công phải quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.

Nhưng theo tôi vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại ở nông thôn, thành quả tuy lớn nhưng tiềm năng vẫn chưa được phát huy,còn một bộ phận nông dân đời sống bấp bênh, cơ cực, năng suất lao động bấp bênh.Chúng tôi thấy rõ điều đó chứ không phải chỉ thành tích một chiều.

Theo tôi, để phát triển nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống người dân, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

– Một là, xây dựng nông thôn mới: không chỉ tập trung quan tâm hạ tầng mà chú ý hơn đến sản xuất. Phải tổ chức lại sản xuất, sắp xếp lại theo thế mạnh của từng vùng, từng khu vực.

Về nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài.

Về người dân nông thôn, tập trung nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn; xây dựng lực lượng nông dân có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực.

– Hai là, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển.

Khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất; phát huy cao nội lực; tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.

– Ba là, cần tập trung quyết liệt triển khai thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, quy mô lớn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đẩy mạnh phát triển chế biến sâu, sản phẩm mới, nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

– Bốn là, đẩy mạnh thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích phát triển doanh nghiệp ở khu vực nông thôn.

Tăng cường liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, hình thành cho được các mô hình liên kết đối tác chặt chẽ, bình đẳng tin cậy giữa nông dân và doanh nghiệp. Đẩy mạnh hỗ trợ khởi nghiệp trong khu vực nông thôn, tập trung vào các mô hình kinh doanh mới, góp phần định hướng sản xuất và xây dựng thương hiệu sản phẩm.

– Năm là, có giải pháp giải quyết căn bản vấn đề tiếp cận thị trường, tiêu thụ sản phẩm, hạn chế tối đa tình trạng bị động, dư thừa sản phẩm, phải giải cứu như thời gian qua. Cần nghiên cứu các mô hình kinh tế chia sẻ, giải pháp công nghệ mới nâng cao khả năng kết nối sản xuất – thị trường, tăng cường tính minh bạch trong chuỗi giá trị nông nghiệp, cải thiện khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm, ngăn chặn thực phẩm bẩn.

– Sáu là, tăng cường dân chủ cơ sở, thường xuyên đối thoại với nông dân, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể, nhất là Hội nông dân các cấp để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt khó khăn, vướng mắc để kịp thời tháo gỡ, hỗ trợ bà con, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.

– Bảy là, các Bộ, ngành, địa phương tăng cường cải cách hành chính, cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư trong nông nghiệp, phải sát cơ sở hơn; tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách, cụ thể hóa các định hướng, không chung chung. Hỗ trợ người dân, doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng tốt các cơ hội từ thị trường quốc tế và các thỏa thuận thương mại tự do.

– Tám là, khuyến khích các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh rõ nét, tập trung xây dựng các chuỗi giá trị nông nghiệp, ứng dụng phương thức thương mại điện tử, nâng cao năng lực cạnh tranh, thực tâm thiết lập quan hệ đối tác với nông dân.

Tôi cũng đề nghị các địa phương đẩy mạnh hơn nữa tái cơ cấu nông nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu từ vào nông nghiệp, nông thôn, hình thành các liên kết, hợp tác 6 nhà trong sản xuất. Giao Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ sớm trình Thủ tướng Nghị định 210 để có thể ký ngay trong tháng tư; các ngân hàng mở rộng cho vay; các địa phương tăng cường đối thoại với nông dân nhiều hơn; phát huy vai trò của các tổ chức chính trị tạo điều kiện cho bà con sản xuất kinh doanh; Bộ Tài nguyên Môi trường tháo gỡ khó khăn về đất đai để tạo khí thế mới cho nông thôn.

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn khuyến khích các doanh nghiệp tập trung xây dựng chuỗi sản xuất nông nghiệp.

Chúc các bác nông dân phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo trong sản xuất để xây dựng nông thôn giàu đẹp”./.

6. Một số kết quả và giải pháp để phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh nhằm nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp theo chiều sâu.

* Một số kết quả đạt được:

Năm 2017, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp những khó khăn, thách thức như: thời tiết tiếp tục có những diễn biến phức tạp, nắng nóng bất thường so nhiều năm làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và khung thời vụ gieo trồng một số loại cây trồng; giá các sản phẩm chăn nuôi xuống thấp, nhất là lợn hơi làm người chăn nuôi bị thua lỗ, tình trạng cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất rừng còn xảy ra ở một số nơi gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở cơ sở… Tuy nhiên, được sự quan tâm chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp & PTNT; sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, ngành Nông nghiệp & PTNT đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, huyện, thành phố, các doanh nghiệp đã tích cực triển khai các Đề án, chính sách hỗ trợ sản xuất do vậy kết quả phát triển sản xuất lâm nông nghiệp năm 2017 tiếp tục được duy trì ổn định và phát triển trên nhiều lĩnh vực.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã có 08 sản phẩm nông nghiệp chủ lực có thương hiệu là: lợn, gà, cá, vải thiều, lúa chất lượng, rau các loại, cam, lạc; 14 sản phẩm đặc trưng, gồm: mỳ gạo, rượu làng Vân, gạo thơm Yên Dũng, bưởi, rau cần Hoàng Lương, mật ong, nếp cái hoa vàng Thái Sơn, na Lục Nam, rượu Kiên Thành, bún Đa Mai, mây tre đan Tăng Tiến, bánh đa Kế, chè Yên Thế, nấm Lạng Giang và 26 sản phẩm tiềm năng. Các sản phẩm chủ lực và sản phẩm đặc trưng của tỉnh, đã có sản phẩm quả vải thiều Lục Ngạn được cấp chứng nhận chỉ dẫn địa lý và 40 sản phẩm được đăng ký bảo hộ sở hữu trên địa bàn tỉnh. Các sản phẩm chủ lực của tỉnh có quy mô sản lượng lớn, chất lượng tốt được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đem lại giá trị cao, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và nâng cao đời sống nhân dân.

Tuy nhiên, sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh trong thời gian qua còn một số hạn chế: Quy mô một số sản phẩm còn nhỏ, phân tán, năng suất, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng cao; phương thức sản xuất chưa được đổi mới; chưa xây dựng được các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Năng suất, chất lương, khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp còn thấp; công tác bảo quản, chế biến sau thu hoạch chưa tốt. Phần lớn nông sản tiêu thụ và xuất khẩu ở dạng thô giá trị gia tăng thấp. Công tác phát triển thương hiệu, bao bì, nhãn mác sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức, nhiều sản phẩm xuất bán ở dạng thô không có nhãn mác nên khó truy xuất nguồn gốc, ảnh hưởng tới thương hiệu sản phẩm. Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá tiêu thụ sản phẩm tuy đã được quan tâm nhưng nội dung, hình thức chưa hấp dẫn, chuyên nghiệp và mới chỉ tập trung cao ở một số sản phẩm như: vải thiều, gà đồi Yên Thế, mì Chũ, rượu làng Vân, cam Lục Ngạn…

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do xuất phát điểm nông nghiệp, nông thôn tỉnh ta thấp; biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi vẫn xảy ra làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Cơ chế, chính sách thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn thiếu đồng bộ và chưa hấp dẫn. Quá trình phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa đã thu hút nhiều lao động gây ảnh hưởng tới lao động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhất là vào thời vụ sản xuất. Tiêu thụ sản phẩm vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát; chưa có nhiều doanh nghiệp, HTX đứng ra liên kết tiêu thụ với quy mô lớn, ổn định, việc tiêu thụ phải qua nhiều khâu trung gian và thường bị ép giá, gây thiệt thòi cho người sản xuất. Mối liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ và bền vững.

* Một số giải pháp: nhằm nâng cao giá trị sản phẩm phục vụ phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, ngành nông nghiệp và PTNT xác định trong thời gian tới sẽ tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo làm tốt một số nội dung sau:

1- Rà soát quy hoạch sản xuất cây trồng, vật nuôi hàng hóa chủ lực như: vải thiều, cây ăn quả có múi (cam, bưởi), lợn, gà và bổ sung một số loại cây trồng vật nuôi có tiềm năng, lợi thế phát triển như cây dược liệu, chè… để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn hiện nay; xác định chiến lược lâu dài, quy hoạch diện tích sản xuất phù hợp với cơ cấu cây trồng và bám sát nhu cầu của thị trường; phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa tập trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.

2- Tăng cường nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là công nghệ giống, công nghệ bảo quản chế biến nông sản. Lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với lợi thế của từng địa phương. Nghiên cứu, thử nghiệm, chuyển giao các giống mới có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất. Bố trí công thức luân canh và thời vụ gieo trồng hợp lý theo hướng rải vụ để tránh áp lực khi vào vụ thu hoạch; xây dựng các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo Kế hoạch của UBND tỉnh.

3- Thực hiện tốt công tác chỉ đạo sản xuất, nhất là sản xuất các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa theo tiêu chuẩn VietGap, đảm bảo các tiêu chuẩn xuất khẩu vào các thị trường mới. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến vào bảo quản, chế biến đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

4- Tăng cường công tác quản lý nhà nước, thu hút các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Tập trung đối với công tác quản lý giống, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, chế biến tiêu thụ sản phẩm; làm tốt công tác tuyên truyền, khuyến cáo các hộ nông dân sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch, sản xuất gắn với hợp đồng bao tiêu sản phẩm, đặc biệt không phát triển nóng diện tích cam, bưởi như hiện nay để đảm bảo phát triển bền vững, tránh thiệt hại cho sản xuất. Tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp như: cơ chế, chính sách về tích tụ đất đai; cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh.

5- Đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển thương hiệu, bao bì, tem nhãn sản phẩm nông sản chủ lực của tỉnh. Phấn đấu đến năm 2020, có ít nhất 6 sản phẩm: vải thiều, gà đồi Yên Thế, cam, bưởi Lục Ngạn, mì gạo, chè Yên Thế, rượu làng Vân đạt sản phẩm chủ lực cấp tỉnh. Trong đó, sản phẩm vải thiều Lục Ngạn đạt tiêu chí sản phẩm quốc gia; tiếp nhận, triển khai công nghệ bảo quản, chế biến các sản phẩm nông sản nhằm kéo dài thời gian thu hoạch và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

6- Làm tốt công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường; nâng cao chất lượng dự báo, chủ động thông tin về thị trường; tổ chức triển khai các hoạt động kết nối cung – cầu, kết nối giữa vùng sản xuất với các doanh nghiệp, thương nhân và các hệ thống phân phối. Coi trọng tất cả các thị trường trong và ngoài nước, phát triển các kênh phân phối nội địa; chú trọng thị trường xuất khẩu truyền thống Trung Quốc và các nước ASEAN, cùng với việc mở rộng thị trường mới yêu cầu chất lượng cao như: Mỹ Úc, EU, Nhật Bản…

7- Thành lập và phát triển các HTX để tiếp nhận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cầu nối liên kết tiêu thụ nông sản hiệu quả giữa người sản xuất với doanh nghiệp, với thị trường, tạo ra sức cạnh tranh hàng hóa và liên kết theo chuỗi giá trị bền vững giữa sản xuất – chế biến – tiêu thụ./.

II. HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CẤP HỘI

1. Trích nội dung Chương trình phối hợp: Thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2018- 2023.

Ngày 22 tháng 12 năm 2017, Hội Nông dân Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký Chương trình phối hợp số: 48/2017/CTPH-HND-BTNMT về phối hợp thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường giai đoạn 2018-2023, tập trung vào một số nội dung sau:

1- Phối hợp thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho cán bộ và hội viên nông dân các cấp trong quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản, bảo tồn đa dạng sinh học; tham gia giám sát, phát hiện và đề xuất xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về môi trường, quản lý đất đai, khoáng sản…

2- Triển khai có hiệu quả Tiêu chí số 17 về môi trường và an toàn thực phẩm, trong Chương trình mục tiêu quốc gia về Nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020, trong đó trọng tâm là tuyên truyền vận động cộng đồng tham gia thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn sinh hoạt nông thôn, nước thải sinh hoạt, xử lý chất thải chăn nuôi, phụ phẩm nông nghiệp, chất thải làng nghề, xây dựng cảnh quan môi trường nông thôn xanh, sạch, đẹp.

3- Tổ chức các hội thảo, tập huấn về các sự kiện môi trường nhằm tăng cường sự tham gia của đông đảo hội viên nông dân trong bảo vệ tài nguyên môi trường, giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, sản xuất xanh, việc làm xanh, lối sống tiêu dùng bền vững thân thiện với môi trường trong nông thôn.

4- Đẩy mạnh vai trò của Hội Nông dân tham gia tư vấn, phản biện cơ chế chính sách luật pháp, quy hoạch, kế hoạch quốc gia và liên vùng về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực nông thôn, giám sát tuân thủ pháp luật Việt Nam về tài nguyên môi trường, bảo vệ quyền lợi cho hội viên nông dân, hướng hội viên nông dân đi đầu trong tuân thủ pháp luật về tài nguyên môi trường.

5- Tổ chức triển khai các phong trào, chương trình, dự án, nhiệm vụ, kế hoạch hàng năm của Hội Nông dân gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đối khí hậu, tăng trưởng xanh, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo chuỗi giá trị sản phẩm sạch bền vững.

6- Tiếp tục đấy mạnh việc xây dựng và nhân rộng các phong trào, các mô hình “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”; “Nông dân tham gia giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai”; “Cánh đồng không bao bì thuốc bảo vệ thực vật”; “Nông dân thu gom, phân loại và xử lý rác thải, chất thải nông thôn thành phân bón tại nguồn”…

7- Phối hợp tổ chức các sự kiện tài nguyên và môi trường, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong phối hợp quản lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.

2. Một số nội dung chính Chương trình phát động đợt thi đua đặc biệt chào mừng Đại hội Hội Nông dân các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Ngày 27/02/2018, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Chương trình số 75-CT/HNDT về phát động đợt thi đua đặc biệt chào mừng Đại hội đại biểu Hội Nông dân các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018 – 2023, với chủ đề: “Cán bộ, hội viên nông dân trên địa bàn tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, sáng tạo, năng động, trách nhiệm, vượt khó, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân năm 2018, Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ VIII nhiệm kỳ 2013-2018“,trong đó tập trung vào những nội dung sau:

1- Tập trung chỉ đạo, tổ chức thành công Đại hội Hội Nông dân các cấp, chuẩn bị tốt cho tổ chức Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ IX gắn với sơ, tổng kết và thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án của Hội, thi đua xây dựng và phát triển tổ chức Hội; tập trung hoàn thành các chỉ tiêu đại hội hội nông dân các cấp đã đề ra, nhất là các chỉ tiêu do Hội Nông dân trực tiếp thực hiện như phát triển hội viên, đào tạo nghề cho nông dân, phát triển và tăng trưởng nguồn Quỹ Hỗ trợ nông dân… Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cổ vũ động viên hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và hỗ trợ giúp đỡ nông dân nghèo biết sản xuất hàng hóa, biết bảo quản, biết tiêu dùng, đoàn kết xây dựng làng quê, thôn, bản xanh, sạch đẹp, văn minh, đáng sống.

2- Tiếp tục đẩy mạnh ba phong trào thi đua, các cuộc vận động của Hội gắn với việc thực hiện hiệu quả phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 – 2020 của Thủ tướng Chính phủ phát động và Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” gắn chặt với vận động hội viên, nông dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2018 nhằm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Hội; tích cực tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân thực hiện có hiệu quả 3 nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Hội lần thứ 12 (Khóa VI) đã đề ra; phát huy vai trò, trách nhiệm của giai cấp nông dân và hội nông dân các cấp trong tham gia phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Chăm lo lợi ích chính đáng của hội viên, nông dân.

3- Chủ động trong công tác tham mưu, đề xuất cho cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp có những chủ trương, giải pháp kịp thời, hiệu quả nhằm thúc đẩy công tác Hội và phong trào nông dân. Phát huy vai trò tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể trong sạch vững mạnh, thực hiện tốt chức năng giám sát, phản biện xã hội trọng tâm là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

4- Vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và hội viên nông dân tích cực, năng động, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tích cực thi đua học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới; Chú trọng đến công tác nghiên cứu khoa học ứng dụng, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Xây dựng phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả; thi đua đề xuất các ý tưởng, sáng kiến, giải pháp góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng văn hóa công sở.

5- Huy động các nguồn lực để xây dựng các mô hình, nhân rộng các mô hình điển hình tiên tiến, triển khai hiệu quả các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ nông dân khởi nghiệp, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước đối với hội viên, nông dân, nhất là hội viên, nông dân các dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

6- Đẩy mạnh các hoạt động xã hội của Hội gắn với phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau” do Thủ tướng Chính phủ phát động, tham gia ủng hộ các loại quỹ do Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động nhằm giúp đỡ, hỗ trợ các gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

7- Xây dựng các công trình chào mừng đại hội, các điển hình cá nhân và các tập thể trên các lĩnh vực hoạt động, lao động sản xuất và công tác của Hội. Chú trọng phát hiện, xây dựng, bồi dưỡng và tuyên truyền, biểu dương, tôn vinh, nhân rộng các điển hình, nhân tố mới trên các lĩnh vực có thành tích xuất sắc theo hướng thiết thực, rõ người, rõ việc, phản ánh đúng thực chất trong các hoạt động, các phong trào thi đua của Hội. Tiếp tục phát huy, nhân rộng các mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả.

8- Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng theo tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị (khóa XI) và Đề án số 62 – ĐA/HNDTW ngày 28/6/2017 của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; Hướng dẫn công tác thi đua khen thưởng của Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh năm 2018. Xác định nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức các phong trào thi đua yêu nước theo hướng tập trung về cơ sở, bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách để tổ chức các đợt thi đua cụ thể với các hình thức thi đua phong phú, hấp dẫn, có tiêu chí cụ thể, thiết thực mang tên Đại hội Hội Nông dân cấp mình.

9- Công tác thông tin tuyên truyền phải đổi mới, sáng tạo, hấp dẫn nhằm nhân rộng các điển hình tiên tiến, các mô hình mới, nhân tố mới. Phối hợp với các cơ quan thông tin truyền thông của Hội tăng thời lượng, chuyên trang, chuyên mục về các phong trào thi đua yêu nước, tấm gương người tốt, việc tốt để biểu dương, tôn vinh, nhân rộng, tạo sức lan tỏa và không khí thi đua sôi nổi trong toàn hệ thống Hội. Hướng dẫn hội viên, nông dân chỉ sản xuất những hàng hóa nông sản có giá trị kinh tế, có thị trường và có doanh nghiệp đỡ đầu để gắn chặt các khâu từ sản xuất đến chế biến, bảo quản, tiêu thụ theo một chuỗi giá trị bền vững. Tuyên truyền, vận động nông dân chỉ sản xuất, chế biến tiêu dùng và bán ra thị trường những sản phẩm nông nghiệp an toàn.

Cùng với thi đua thực hiện các nội dung trên, mỗi huyện, thành Hội đăng ký ít nhất 03 công trình chào mừng Đại hội Hội Nông dân các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII nhiệm kỳ 2018-2023.

3. Hưởng ứng tháng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2018.

Ngày 28/3/2018, Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã ban hành Công văn số 1586-CV/HNDT về triển khai tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2018, thời gian hưởng ứng bắt đầu từ ngày 15/4/2018- 15/5/2018 và duy trì đến hết ngày 30/6/2018, với chủ đề “Tăng cường trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm”. Theo đó, Hội Nông dân các huyện, thành phố tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

– Tổ chức các hoạt động thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TW của Ban Bí thư; Chỉ thị số 13-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 27-NQ/HNDTW của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam về vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình phối hợp số 526/CTPH-CP/HNDVN-LHHPNVN về tuyên truyền vận động sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn vì sức khỏe cộng đồng giai đoạn 2017-2020 giữa Chính phủ và Hội Nông dân Việt Nam; Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ATTP và phát động triển khai “Tháng hành động vì ATTP” năm 2018; thời gian thực hiện xong trước ngày 20/4/2018.

– Nội dung tuyên truyền, tập trung phổ biến các quy định về điều kiện vệ sinh cơ sở, vệ sinh trang thiết bị, dụng cụ sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến được phép sử dụng, đúng liều lượng, đúng đối tượng theo quy định trong sản xuất, chế biến thực phẩm; cách bảo quản, kinh doanh thực phẩm an toàn; tuyên truyền các mô hình sản xuất, kinh doanh các sản phẩm, chuỗi thực phẩm an toàn, các sản phẩm truyền thống của địa phương.

Tuyên truyền tác hại đối với sức khỏe người tiêu dùng và thiệt hại đối với nhà sản xuất, kinh doanh khi sử dụng chất cấm hoặc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, kháng sinh; vận động hội viên, nông dân không lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt, không sử dụng hóa chất độc hại để dấm chín hoa quả, không sử dụng chất cấm trong chăn nuôi; không vận chuyển thực phẩm không rõ nguồn gốc, đã hư, hỏng, không vận chuyển gia súc, gia cầm bị dịch bệnh.

Tuyên truyền chọn mua thực phẩm an toàn, cách đọc nhãn mác trên các sản phẩm, cách bảo quản, chế biến thực phẩm; không mua thực phẩm tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh không bảo đảm an toàn, thực phẩm không rõ nguồn gốc, có dấu hiệu ôi thiu, mốc, hỏng; khai báo kịp thời khi bị ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm…

– Chủ động tham mưu với cấp ủy, phối hợp với các ban ngành chức năng triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung phối hợp sau:

+ Phối hợp tổ chức chiến dịch truyền thông về ATTP từ ngày 01/4/2018 đến ngày 15/5/2018 theo nội dung hướng dẫn tại Kế hoạch số 387/KH-BCĐLN ngày 01/02/2018 của BCĐLN về ATTP tỉnh về việc triển khai công tác QLNN về ATTP năm 2018; hướng dẫn mỗi xã, phường, thị trấn làm tối thiểu 05 băng rôn, mỗi cơ sở thực phẩm làm tối thiểu 01 băng rôn với nội dung khẩu hiệu về đảm bảo ATTP trong tháng hành động vì ATTP năm 2018 và tiến hành treo tại các chợ, khu vực đông dân cư trên địa bàn, tại cơ sở thực phẩm trong thời gian diễn ra Tháng hành động.

+ Phối hợp tham gia đoàn thanh tra, kiểm tra về ATTP từ ngày 15/4/2018 đến ngày 15/5/2018 trên địa bàn.

+ Phối hợp duy trì việc công khai đường dây nóng về ATTP; tăng cường thông tin, chỉ dẫn địa chỉ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn trên phương tiện thông tin đại chúng, thông báo cho hội viên, nông dân dễ tiếp cận và sử dụng nguồn thực phẩm an toàn.

+ Chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và các sự cố về ATTP; bố trí nguồn lực và sẵn sàng triển khai, khắc phục hậu quả khi xảy ra dịch bệnh, sự cố về ATTP theo quy định.

4. Kết quả Đại hội Hội Nông dân cấp cơ sở nhiệm kỳ 2018-2023.

Thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TW của Ban Bí thư TW Đảng; Công văn số 528-CV/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang; các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Thường vụ TW Hội Nông dân Việt Nam về tổ chức đại hội đại biểu Hội Nông dân các cấp tiến tới đại hội đại biểu Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII. Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Hội Nông dân các huyện, thành phố và cơ sở tổ chức đại hội cấp cơ sở bảo đảm tiến độ, nội dung và chất lượng.

Tính đến ngày 16/4/2018, toàn tỉnh đã có 211/225 cơ sở đạt 94% tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2018-2023, 6 huyện: Lục Ngạn, Yên Thế, Tân Yên, Hiệp Hòa, Sơn Động và TP Bắc Giang đã chỉ đạo tổ chức xong đại hội cấp cơ sở.

Các cơ sở đã tích cực, chủ động thực hiện tốt công tác tuyên truyền trước, trong và sau Đại hội. Đại hội diễn ra trong không khí trang trọng, vui tươi, phấn khởi, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của cán bộ, hội viên, nông dân. Các văn kiện trình đại hộ được quan tâm, đặc biệt là báo cáo chính trị, báo cáo kiểm điểm của ban chấp hành được chuẩn bị kỹ, tranh thủ nhiều ý kiến đóng góp của cán bộ, hội viên và nông dân, trong đó đã tổng kết, đánh giá đúng kết quả công tác hội và phong trào nông dân, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm đồng thời đưa ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhiệm kỳ 2018-2023. Báo cáo kiểm điểm của ban chấp hành thể hiện tính chiến đấu cao, phản ánh vai trò, vị trí của ban chấp hành trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức hội. Việc tham gia góp ý vào văn kiện của hội cấp trên trực tiếp được thực hiện nghiêm túc, có chất lượng. Không khí thảo luận tại đại hội sôi nổi, thẳng thắn, sâu sắc, có tính chiến đấu, thể hiện tinh thần dân chủ, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của cán bộ, hội viên và nông dân. Công tác chuẩn bị nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ, các chức danh chủ chốt và bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên được thực hiện dân chủ, khách quan, bảo đảm nguyên tắc, đúng quy trình hướng dẫn. Đại hội bầu cử tập trung, bầu một lần đủ số lượng, đúng dự kiến của đề án nhân sự trình tại đại hội. 211 cơ sở tổ chức đại hội đã bầu ra 2.736 ủy viên ban chấp hành. Ban chấp hành đã bầu ra 912 ủy viên ban thường vụ, 209 cơ sở đã bầu chủ tịch, phó chủ tịch hội nhiệm kỳ 2018-2023 đảm bảo đúng số lượng, cơ cấu, trình độ.

Thời gian tới, Hội Nông dân tỉnh tiếp tục tập trung chỉ đạo tổ chức xong đại hội cấp cơ sở và chỉ đạo Hội Nông dân huyện Lục Ngạn tổ chức đại hội điểm cấp huyện, thành phố vào ngày 23-24/4/2018./.

III. ĐỊNH HƯỚNG TUYÊN TRUYỀN QUÝ II

Trong quý II, các cấp hội và chi hội cần tập trung tuyên truyền những nội dung sau:

– Tiếp tục tuyên truyền các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4,5,6 (khóa XII); Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (dự kiến diễn ra vào tháng 5/2018), kết quả tổ chức học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7; tuyên truyền Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV và kỳ họp thứ 5, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XVIII, nhiệm kỳ 2016-2021. Tuyên truyền Quy định số: 124-QĐ/TW, ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng quy định về Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên; Kế hoạch số 43-KH/TU, ngày 7/3/2018 của Tỉnh ủy về Sơ kết 02 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/6/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh…

– Tiếp tục tuyên truyền các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, của Hội cấp trên về tổ chức Đại hội Hội Nông dân các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh Bắc Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ 2018-2023; tuyên truyền kết quả đại hội Hội Nông dân cơ sở và đại hội cấp huyện, thành phố, đặc biệt tập trung tuyên truyền đại hội điểm cấp huyện. Tuyên truyền, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm 2018 đã được cấp ủy xác nhận.

– Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt các chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn như: Nghị định số: 15/2018/NĐ-CP, ngày ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Quyết định số 12/2018/QĐ-TTg, ngày 06/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí lựa chọn, công nhận người có uy tín và chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; Kế hoạch số 45-KH/TU ngày 15/3/2018 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác dân số trong tình hình mới… Tuyên truyền kết quả thực hiện phát triển kinh tế – xã hội những tháng đầu năm 2018; công tác dân tộc miền núi; công tác thông tin đối ngoại; biển, đảo và công tác phân giới cắm mốc trên đất liền năm 2018…

– Các cấp hội đẩy mạnh thực hiện các phong trào, phát động thi đua chào mừng đại hội hội nông dân các cấp. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân thực hiện tốt Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; vận động hội viên nông dân giữ gìn vệ sinh môi trường, tham gia bảo hiểm y tế, sản xuất nông nghiệp sạch. Tăng cường tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang theo tinh thần Chỉ thị số 05/CT-TTg ngày 09/02/2018 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; tích cực hưởng ứng tháng hành động vì an toàn thực phẩm; tháng hành động vì an toàn vệ sinh lao động. Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân xây dựng và phát triển các loại hình kinh tế tập thể; tham gia triển khai thực hiện kế hoạch dồn điền, đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu; tổ chức các mô hình sản xuất hàng hóa tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp gắn với đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp…

– Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, của tỉnh và của hội như: kỷ niệm 57 năm ngày thành lập Hội Nông dân giải phóng Miền Nam Việt Nam (21/4/1961 – 21/4/2018); kỷ niệm 43 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018) và 64 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2018); kỷ niệm 128 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2018) gắn với tuyên truyền các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2018)…/.

HỘI NÔNG DÂN TỈNH BẮC GIANG